Nghĩ thật sâu xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc là người bảo vệ sinh mạng con người, sống chết trong tay mình nắm, họa phúc trong tay mình giữ, thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành động không thận trọng, mà làm liều lĩnh học đòi cái nghề cao quí đó chăng ? ( Lời Hải Thượng Lãn Ông )

*
*
*
*

bụng đầy trướng hoặc buồn bực, bệnh thường triền miên, từ nhẹ đến nặng. Y học hiện đại cho là nằm trong bệnh thương hàn hoặc giống thương hàn (loại thương hàn).

Bạn đang xem: Thấp nhiệt là gì

Đang xem: Thấp nhiệt là gì

Nguyên nhân bệnh lý:

Nguyên nhân phát bệnh phần nhiều do cơ thể suy yếu dễ bị thấp ôn xâm nhập vì thấp thuộc âm tà, tính năng trì trệ lại bị khí ẩm nóng nung nấu nên bệnh thường dai dẳng lâu khỏi. Bệnh này phần nhiều quan hệ lớn ở tỳ vị. Công năng vận hoá của tỳ vị kém lại bị ngoại tà xâm nhập, phối hợp thành bệnh, người chính khí mạnh, bệnh phần nhiều ở vị, nhiệt năng hơi thấp. Người chính khí yếu, bệnh phần nhiều ở tỳ, thấp nặng hơn nhiệt, tuy nhiên không phân biệt rõ thấp nhiệt cái gì mạnh hơn, bị nung nấu triền miên sẽ biến thành táo nhiệt, làm hao tổn huyết dịch, dẫn đến táo kết. Nên chú ý nếu nóng lâu vào phần huyết sẽ sinh ra âm hư huyết nhiệt lâu ngày không khỏi.

Bệnh này chia làm 2 thể.

a) Tà ở vệ khí:

Có các triệu chứng phát sốt, sợ lạnh, váng đầu, mệt mỏi, hông bụng đầy buồn, hoặc ho khúc khắc, không khát nước, tiểu tiện vàng dắt, chất lưỡi nhợt, mạch nhu hoãn.

Phân tích: Bệnh mới phát do thấp ôn (nóng ấm) bị uất ở ngoài, vệ khí không thông nên phát sốt sợ lạnh, thấp trở ngại đến phần dương nên đau đầu. Thấp vốn chất nặng trở ngại kinh lạc, nên người thấy nặng nề mệt mỏi. Thấp tà trở ngại tỳ vị nên hông bụng đầy buồn, không biết đói, phế khí bị trở ngại nên ho. Tóm lại là do thấp nhiệt nung nấu.

Cách chữa: Thông khí hoá thấp, sơ tà tiết nhiệt.

Thuốc dùng bài: TAM NHÂN THANG gia giảm

(Ôn bệnh điều biện)

Thành phần:

Hạnh nhân 12g

Bạch đậu khấu 8g

Hoạt thạch phi 24g

Ý dĩ nhân 24g

Bạch thông thảo 8g

Chế Bán hạ 12g

Cách dùng: sắc nước uống chia 3 lần/ ngày.

Tác dụng:Tuyên thông khí cơ, thanh lợi thấp nhiệt.

Giải thích bài thuốc:

+Hạnh nhân vị cay đắng khai thông phế khí. Bạch đậu khấu vị cay đắng hóa thấp lợi tỳ. +Ý dĩ nhân ngọt nhạt thanh lợi thấp nhiệt ở hạ tiêu đều là chủ dược.

+Bán hạ, Hậu phác trừ thấp tiêu trệ.

+Thông thảo, Hoạt thạch, Trúc diệp thanh lợi thấp nhiệt.

Các vị thuốc hợp lại thành một bài thuốc có tác dụng sơ lợi khí cơ, tuyên thông tam tiêu, thấp nhiệt tiêu tán, bệnh ắt phải khỏi.

b) Tà tích khí phận (tà chứa ở phần khí).

Có các triệu chứng: sốt, không ra mồ hôi, ngày nhẹ đêm nặng, hông bụng đầy buồn, nôn mửa, khát mà không muốn uống hoặc ưa uống nước nóng, tiểu tiện ngắn dắt, đại tiện khó đi hoặc đi lỏng. Chất lưỡi trắng hoặc đỏ, rêu mỏng mạch nhu hoãn hoặc nhu sắc.

Phân tích: Do thấp nhiệt ở dương minh khí phận nên phát sốt, không ra mồ hôi và nôn mửa buồn bực, là do thân nhiệt uất ở bên trong, thấp nhiệt ứ đọng xuống dưới nên tiểu tiện vàng dắt, đồng thời đại tiện khó khăn, lúc lỏng khi táo, rêu mỏng ,lưỡi đỏ, mạch nhu sác cũng do thấp nhiệt sinh ra.

Cách chữa: Thanh nhiệt, hoá thấp thông khí, giải biểu.

Xem thêm: Các Dạng Bài Tập Về Viết Phương Trình Mặt Cầu, 50 Bài Tập Phương Trình Mặt Cầu Mức Độ Thông Hiểu

Dùng bài LIÊN PHÁC ẨM gia giảm:

(Hoắc loạn luận):

Hoàng liên 12g

Hậu phác 12g

Đạm đậu xị 12g

Sơn chi 12g

Bán hạ 8g

Xương bồ 6g

Lô căn 14g

Trong bài dùng hoàng liên, hậu phác để thanh nhiệt táo thấp, chi tử, đậu đen, để tiết nhiệt khí, xương bồ, bán hạ để đưa khí độc xuống, lô căn vừa thanh nhiệt, vừa sinh tân dịch, gia thêm hoắc hương, hoạt thạch, thông thảo để tham phấp lợi tiểu, làm cho thấp nhiệt nhanh được thanh giải.