Bạn đang xem: Ngữ Văn Lớp 12 – Phân Tích Bức Tranh Tứ Bình Trong Bài Thơ Việt Bắc Tại Món Miền Trung

Khi nhắc đến bài thơ Việt Bắc, hình ảnh ấn tượng nhất và sắc sảo nhất đọng lại trong lòng người đọc là bức tranh nhiên nhiên, con người, cảnh vật ở đây. Ngôn ngữ thơ của Tố Hữu đã tinh tế phác họa nên một bức tranh tứ bình, 4 mùa xuân – hạ – thu – đông cùng những vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc, con người Việt Bắc đã hiện lên một cách tinh tế vào xao động. Sau đây là dàn ý bài văn phân tích Bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất. Mời các bạn cùng đọc.

Bạn đang xem: Kết bài việt bắc bức tranh tứ bình

*
5 bài văn mẫu phân tích bức tranh tứ bình

Dàn ý phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc

I) Mở bài

– Việt Bắc là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu. Lời thơ như khúc hát ân tình, tha thiết Về Việt Bắc, quê hương cách mạng Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp. 

– Ở đó, bên cạnh những bức tranh hùng tráng, đậm chất sử thi còn có những vẻ đẹp gần gũi đậm chất đời thường được bao bọc bởi thiên nhiên vô cùng tươi đẹp. 

– Trích thơ ” Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. 

II) Thân bài

Nhận xét chung: Đây là bức tranh được dệt bằng ngôn từ nghệ thuật toàn bích, có sự hòa quyện giữa cảnh và người, giữa cuộc đời thức với tấm lòng của nhà thơ cách mạng. 

1) Hai câu thơ đầu 

– Bài thơ nói đến nghĩa tình cách mạng nhưng nhà thơ lại dùng giọng tình yêu thương, lời của người yêu để trò chuyện, giãi bày tâm sự.

– Cả bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao, dân ca. Đó là lời giãi bày tâm sự giữa người đi (người về xuôi) với người ở lại là đồng bào Việt Bắc. 

– Mười lăm năm cách mạng thành mười lăm năm ấy tha mặn nồng, người đi người ở thành mình – ta, ta – mình quấn quýt bên nhau trong một mối ân tình sâu nặng.

– “Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”. Câu thơ có nhịp êm ái nhờ điệp từ và các thanh bằng (6/8) như một lời ru, không chỉ diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình mà còn ngợi ca về thiên nhiên và con người Việt Bắc. 

– Tác giả đã rất tế sử dụng từ “hoa” trong câu thơ. Hoa vốn dĩ là thiên nhiên, là những gì tươi đẹp. Đặt hoa bên cạnh người là sự tôn vinh về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Hơn nữa, hoa và người hòa quyện, gắn bó với nhau. Nới tới thiên nhiên không thể không nói đến con người và ngược lại, những con người ấy đã ở trong một thiên nhiên tươi mới, căng tràn sức sống.

2) Tám câu thơ sau

Nhận xét: Bốn câu thơ lục bát còn lại là bức tranh thiên nhiên liên hoàn về con người và thiên nhiên Việt Bắc. Nhiều người còn gọi cho cái tên ân ái là bộ tứ tình (xuân, hạ, thu, đông). Nhà thơ kế thừa nghệ thuật hội họa cổ truyền trong khi miêu tả thiên nhiên. Mỗi câu thơ khắc họa một bức tranh cụ thể nhưng có thể ghép lại với nhau thành một bộ “tuyệt tác” gọi là “tứ bình”.

a) Bức tranh thứ nhất”

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng”

– Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn. Trên cái nền xanh bạt ngàn của rừng, nổi bật lên hình ảnh những bông hoa chuối đỏ tươi.

– Nghệ thuật điểm xuyết trong thơ cổ “cỏ non xanh rợn chân trời/cành lê trắng điểm một vài bông hoa” (Nguyễn Du).

– Giữa bạt ngàn màu xanh của núi rừng Việt Bắc, màu đỏ của hoa chuối bỗng gợi lên sự ấm áp, có sức lan tỏa. Vì thế thiên nhiên hùng vĩ ấy không còn xa lạ mà trái lại rất gần gũi và thân thiết với con người.

– “Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng”. câu thơ cũng sử dụng điểm xuyết rất độc đáo: càng chọn điểm nhỏ nhất thì sức gợi càng lớn hơn. Vì thế câu thơ có sự nhấp nháy của ánh nắng trong khung cảnh thiên nhiên đó làm cho không gian tĩnh mịch bỗng có sức sống và sự chuyển động.

– Với nghệ sĩ, việc tạo dựng nên những lớp thời gian xếp chồng lên nhau và không gian tươi mới là tuyệt tác của sự tái sinh những lớp từ ngôn ngữ. 

b) Bức tranh thứ hai

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

– Bức tranh thứ hai có sự định vị về thời gian (ngày xuân), nhưng thời gian ấy đã mở cả không gian “mơ nở trắng rừng”.

– cách điệp âm (mơ/nở, trắng/rừng) cùng với hình ảnh hoa mơ trắng tạo nên không gian vừa rộng lớn, vừa có sự thanh tú, rộn ràng, náo nức của mùa xuân. 

– Nếu bức tranh thứ nhất, nhà thơ dùng nghệ thuật điểm xuyết thì ở đây, nhà thơ lại hướng vào cái nhìn toàn cảnh, bao quát hết không gian cảnh vật để đi tìm cái rạo rực của thiên nhiên.

– Trên nền không gian rộng lớn, náo nức ấy, nhà thơ hướng mắt về hoạt động có tính chất tỉ mỉ: Người đan nón chuốt từng sợi giang.

– Hình ảnh con người cần mẫn, chăm chú xuất hiện. Đó là hình ảnh tả thực, hình ảnh đặc trưng của con người Việt Bắc. Đó cũng chính là hình ảnh khắc sâu trong tâm khảm của nhà thơ khi nhớ về Việt Bắc.

c) Bức tranh thứ ba

“ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”

– Mở đầu bằng tiếng ve cũng chính là báo hiệu cho mùa hè, định vị thời gian rõ ràng. 

– Dòng thơ vừa có âm thanh, vừa có màu sắc đặc trưng của rừng Việt Bắc. Nhà thơ đã hòa quyện hình ảnh con người và thiên nhiên trong một khung hình. Hình ảnh cô em gái hái măng được diễn tả “một mình” nhưng lại không hề cô đơn vì có thiên nhiên, âm thanh và màu sắc của ngày “hội” của cảnh vật rừng Việt Bắc.

d) Bức tranh thứ tư

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

– Câu thơ có kiểu mở đầu bằng sự định vị cả không gian lẫn thời gian (rừng thu). Đến đây ta chú ý đến các kiểu định vị của các câu thơ trước.

– Ứng với mỗi bức tranh là một câu thơ định vị cho mỗi mùa. Và bức tranh cuối cùng là một đoạn hoài niệm nên tất cả hình ảnh đều tượng trưng và bao quát hơn.

– Nhà thơ không dùng hình ảnh lạnh lẽo, bao la, trống vắng để tả rừng thu Việt Bắc mà dùng “trăng rọi hòa bình”, vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc đời ân tình vừa mang ý nghĩa cuộc sống có sự ấm áp, niềm tin và tự do.

Đánh giá:

– Bức tranh tứ bình bằng thơ về cành và người Việt Bắc được dệt dưới ánh sáng của hoài niệm da diết. Thông thường, người ta chỉ nhớ những gì ấn tượng nhất của quá khứ và thời gian càng xa thì ấn tượng ấy càng trở nên tươi đẹp, huyền ảo hơn. Hàng loạt điệp từ “nhớ” trong một khổ thơ là sự nối dài của hoài niệm , của lòng người không dứt.

III) Kết bài

– Việt Bắc là bài thơ hay nhất của Tố Hữu. Ở đó, nhà thơ thể hiện tài hoa của mình trên nhiều phương diện nghệ thuật sáng tạo thi ca. Sự tài hoa ấy được dẫn dắt của một điệu tâm hồn đầy tình nghĩa của nhà thơ.

– Bức tranh tứ bình là tuyệt tác được vẽ nên bằng ngôn từ tinh tế và lãng mạn của Tố Hữu. 

Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc – mẫu 1

*
Thiên nhiên, cảnh vật và con người Việt Bắc là nỗi nhớ của Tố Hữu.

Tố Hữu được xem là “lá cờ đầu” trong phong trào thơ Cách mạng Việt Nam với những tác phẩm lưu mãi với thời gian. Thơ ông viết về chính trị nhưng không khô khan, mà ngược lại, dễ đi sâu vào lòng người bởi tình cảm và giọng văn trữ tình truyền cảm. Bài thơ Việt Bắc được sáng tác trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa Việt Bắc sau kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được xem như lời tâm tình chan chứa nỗi niềm của Tố Hữu đối với mảnh đất anh hùng này. Đặc biệt người đọc chắc hẳn sẽ không quên bức tranh tứ bình bằng thơ tuyệt đẹp trong Việt Bắc.

Xuyên suốt bài thơ Việt Bắc là dòng tâm tư, tình cảm chan chứa và sâu lắng của Tố Hữu dành cho quân và dân từng tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ. Người đọc sẽ bắt gặp những hình ảnh gần gũi, đời sống bình dị, cả những con người chân chất Việt bắc qua lời thơ Tố Hữu. Phải có một tình cảm da diết, phải là người nặng tình thì Tố Hữu mới thổi hồn vào từng câu đối đáp bằng thơ lục bát nhuần nhuyễn như vậy.

Có thể nói rằng điểm sáng của cả bài thơ toát lên từ bức tranh tứ bình tuyệt đẹp của núi rừng Việt Bắc qua giọng thơ dìu dặt, trầm bổng của Tố Hữu. Người đọc sẽ được chìm đắm trong khung cảnh hữu tình, nên thơ của núi rừng Việt Bắc. 

Khổ thơ được mào đầu bằng câu đối đáp nhẹ nhàng giữa ta và mình: 

“Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

Thật khéo léo và tinh tế khi Tố Hữu truyền đạt tình cảm một cách kín đáo như thế này. Ngôn ngữ gần gũi, cách diễn tả nhẹ nhàng cũng đã khiến người đọc thấy rất thấm. Tố Hữu hỏi “người” nhưng thực ra là hỏi “mình” và câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Lời mào đầu sâu sắc này sẽ dẫn người đọc lần lượt khám phá nét đặc trưng của núi rừng Việt Bắc trải dọc theo 4 mùa.

Dẫn dắt người đọc cùng tham quan cảnh tiên nơi Việt Bắc, Tố Hữu đã vẽ lên một bức tranh mùa đông ấm áp, tràn đầy tin yêu:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Người đọc ngẩn ngơ trước mùa đông nơi vùng cao Tây Bắc với vẻ đẹp đặc trưng của nó. Phải nói rằng tuy là mùa đông nhưng qua thơ Tố Hữu, cảnh sắc không buồn, không trầm lắng, mà người lại rất sáng, rất ấm áp qua hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”. Màu đỏ của hoa chuối chính là nét điểm xuyết, là ánh sáng làm bừng lên khung cảnh rừng núi mùa đông Việt Bắc. Đây được xem là nghệ thuật chấm phá rất đắc điệu của Tố Hữu giúp người đọc thấy ấm lòng khi nhớ về Việt Bắc. Ánh nắng hiếm hoi của mùa đông hắt vào con dao mang theo bên người của người dân nơi đây bất chợt giúp người đọc thấu được đời sống sinh hoạt và lao động của họ. Màu đỏ của hoa chuối quyện với màu vàng của nắng trên đèo cao đã tạo thành một bức tranh mùa đông rạng rỡ, đầy hy vọng.

Bức tranh mùa xuân ở núi rừng Việt Bắc hiện lên thật trữ tình, thơ mộng như tiên cảnh:

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Đọc hai câu thơ này, người đọc dường như mường tượng ra khung cảnh mùa xuân nơi núi rừng thật hiền hòa, dịu êm, ấm áp. Màu trắng của mơ gợi lên một bức tranh nên thơ trên cái nền dịu nhẹ của màu sắc. Hoa mơ được xem là loài hoa báo hiệu mùa xuân ở Tây bắc, cứ vào độ xuân thì, chúng ta sẽ bắt gặp trên những con đường màu sắc ấy. Mùa xuân Tây Bắc, Tố Hữu nhớ đến hình ảnh “người đan nón” với động tác “chuốt từng sợi giang” thật gần gũi. Động từ “chuốt” được dùng rất khéo và tinh tế khi diễn tả về hành động chuốt giang mềm mại, tỉ mỉ của người đan nón. Phải thật sâu sắc và am hiểu thì Tố Hữu mới nhận ra được điều này. Chữ “chuốt” như thổi hồn vào bức tranh mùa xuân ở Việt Bắc, tạo nên sự hòa hợp thiên nhiên và con người.

Bức tranh mùa hè sôi động dưới ngòi bút của Tố Hữu:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình” 

Tiếng ve kêu vàng giữa “rừng phách” đã làm nên cái động giữa muôn vàn cái tĩnh. Màu vàng của rừng phách là đặc trưng báo hiệu mùa hè về trên xứ sở vùng cao. Tiếng ve như xé tan sự yên tĩnh của núi rừng, đánh thức sự bình yên nơi đây. Từ “đổ” dùng rất đắc điệu, là động từ mạnh, diễn tả sự chuyển biến quyết liệt, lôi cuốn của màu sắc. Bức tranh mùa hè chợt bừng sáng, đầy sức sống với màu vàng rực của rừng phách. Ở mỗi bức tranh thiên nhiên, người đọc đều thấy thấp thoáng bóng dáng con người. Có thể nói đây chính là sự tài tình của Tố Hữu khi gắn kết mối tâm giao giữa thiên nhiên và con người. Giữa núi bao la, thấp thoáng bóng dáng “cô gái hái măng” tuyệt đẹp đã khiến cho thiên nhiên có sức sống hơn.

Và cuối cùng chính là bức tranh mùa thu nhẹ nhàng:

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Mùa thu về trên Tây Bắc với hình ảnh ánh trăng dịu, mát lành. Thiên nhiên dường như rất ưu ái cho mùa thu xứ bắc với sự tròn đầy, viên mãn của ánh trăng. Không phải là ánh trăng bình thường, mà trăng nơi đây là trăng của hòa bình, ánh trăng tri kỉ rọi chiếu những năm tháng chiến tranh gian khổ. Chính ánh trăng ấy đã mang đến vẻ đẹp riêng của mùa thu Việt bắc. Tố Hữu nhìn trăng, nhớ người, nhớ tiếng hát gợi nhắc ân tình và thủy chung.

Thật vậy với 4 cặp thơ lục bát ngắn gọn, 4 mùa của thiên nhiên Việt Bắc được gợi tả sắc nét, tràn đầy sức sống. Nhà thơ quá đỗi tài tình cũng như có tình cảm thật sự rất sâu nặng đối với mảnh đất này mới có thể thổi hồn vào thơ. Bức tranh tứ bình này sẽ khiến cho người đọc thêm yêu, thêm hiểu hơn cảnh vật và con người nơi đây.

Xem thêm: Android Tivi Là Gì ? Android Tivi Và Smart Tivi Có Gì Khác Nhau?

Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc – mẫu 2

*
Hoa mơ nở trắng rừng Việt Bắc

Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng nhắc đến mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình – nơi đã in sâu bao kỷ niệm của một thời kỳ cách mạng gian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến khi chia xa lòng ta sao khỏi xuyến xao bồi hồi. Sợi nhớ sợi thương cứ thế mà đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi “Ta – mình” của đôi lứa yêu nhau. Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Việt Bắc đã hóa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời thơ như tiếng nhạc ngân nga với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình có bao giờ quên được.

“Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị thơ ông diễn tả những tình cảm cách mạng thật nhẹ nhàng mà cũng thật đậm sâu. Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954 khi Trung ương Đảng và Chính phủ và cán bộ kháng chiến từ giã “Thủ đô gió ngàn” về với “Thủ đô Hoa vàng nắng Ba Đình”. Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Nhưng có lẽ để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong bài ca Việt Bắc có lẽ là đoạn thơ về bức tranh tứ bình với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.